Đây là chuyến đi dài nhất, chuẩn bị chu đáo nhất của chúng tôi nhưng cũng là chuyến đi mà giờ chót, tôi đã không tham gia được. Anh Nam Đồng, người "bạn đường cứu trợ" trên từng cây số đã bỏ ra 8 ngày để tổ chức chuyến đi, từ việc tiền trạm cho đến việc tập kết gạo, dầu ăn, thuê phương tiện chuyên chở. Ngoài anh Nam Đồng và phóng viên Đắc Lam lính cũ của anh Nam Đồng, tôi cử anh Trần Duy Anh, một kỹ sư trẻ 24 tuổi của Soncamedia tham gia chuyến đi với số tiền hơn 100 triệu để mua 8.500kg gạo, 850 chai dầu ăn, đường cát v.v...Tiền đóng góp của bá tánh lần trước còn dư cùng với tiền đầu giá từ thiện sản phẩm Soncamedia trong 3 đợt hội nghị khách hàng (sẽ cập nhật số liệu tài chánh ở cuối bài viết).
Chuyến đi khá vất vả bởi vận chuyện 8,5 tấn hàng vào tận thâm sơn cùng cốc, vượt độ cao từ 1.200m lên đến 1300m, qua cả trăm con thác và ghềnh, ròng rã nhiều ngày. Không trực tiếp tham gia chuyến đi nên bài tường thuật đợt cứu trợ này xin trích đăng lại từ hai nguồn: từ báo điện tử Soncamedia Onlne (SMO) do Vũ Hồng Lý viết và từ Nhật ký hành trình do chính Trần Duy Anh viết.
Tin ngắn SMO 1
Cứu trợ miền Trung đợt 2 – Chuyến đi đầy thử thách và ý nghĩa
Ngày 21/12 vừa qua Soncamedia đã cử anh Trần Duy Anh, kỹ sư trẻ, thay mặt quỹ Mẹ Ơi đã lên đường đi Nghệ An để tham gia đợt cứu trợ tại bản Cò Phạt và bản Búng (Con Cuông, Nghệ An). Chuyến cứu trợ này quy mô, đầy thử thách nhưng cũng là chuyến đi ý nghĩa nhất từ trước đến nay vì bà con nơi đây đang thực sự cần sẻ chia hơn bao giờ hết.
Bản Cò Phạt và bản Búng là nơi sinh sống của 180 hộ dân bộ tộc Đan Lai – Một bộ tộc ít người nổi tiếng với tập tục ngủ ngồi, được coi là chốn “thâm sơn cùng cốc”. Để đến được với 2 bản này, anh Duy Anh cùng đoàn cứu trợ sẽ phải vượt qua 120km từ Nghệ An vào đến trung tâm huyện Con Cuông, sau đó sẽ phải đi thêm 30km vào xã Môn Sơn. Từ Môn Sơn, các anh phải tiếp tục đi thêm 3 giờ bằng thuyền độc mộc đến bản Cò Phạt. Ngày hôm sau phải đi thêm 2 giờ nữa để đến bản Búng. Đường đi vô cùng khó khăn, thuyền độc mộc phải vượt qua khoảng 100 con thác, ghềnh ở độ cao 1.300m.
Tin mới nhất mà chúng tôi nhận được là đoàn cứu trợ của anh Duy Anh đã bắt đầu xuống thuyền độc mộc lúc 11h trưa nay 22/12/2010. Kể từ giờ phút này tất cả vật dụng mang theo đều phải được cuộn trong bịch nilon để chống tạt nước, ngoài ra chúng ta sẽ không thể liên lạc với đoàn do không có sóng điện thoại di động cho đến chiều 23/12/2010 theo kế hoạch đoàn sẽ trở ra Môn Sơn. Ngoài số lượng gạo lên đến 8500kg đã được nhóm tiền trạm vận chuyển trong những ngày qua, đoàn còn mang thêm dầu ăn và đường đến với bà con Đan Lai đang rất thiếu đói và chịu đựng giá lạnh.
Trần Duy Anh là một kỹ sư trẻ của công ty vừa gia nhập đội ngũ Sơn Ca khoảng 6 tháng, anh rất ít đi xa nhà và chưa từng đi máy bay. Đây là một thử thách rất lớn và đầy bất ngờ đối với Duy Anh, cầu mong các anh đi về may mắn và bình an.
Tin SMO số 2: nhận được thông tin sau 2 ngày mất liên lạc
Thông tin mới nhất về đoàn cứu trợ sau 2 ngày đêm mất liên lạc
Theo thông tin chúng tôi vừa nhận được vào sáng nay, chiều ngày 22/12, đoàn cứu trợ của anh Duy Anh đã vào được bản Cò Phạt để trao gạo và các thực phẩm khác như dầu ăn, đường... cho bà con. Cuộc sống nơi đây thực sự là chốn "Sơn cùng thủy tận", bà con sinh sống ở một cùng đất hoang vu trong cánh rừng già giáp ranh với Lào. Tại đây, đoàn cứu trợ không thể liên lạc ra bên ngoài bằng bất cứ phương tiện nào, không điện thoại bàn, không sóng di động.
Theo kế hoạch, chiều hôm qua, ngày 23/12 đoàn anh Duy Anh sẽ trở ra Môn Sơn nhưng vì xuồng máy hết xăng nên đoàn phải lưu lại tại trạm biên phòng 555 thêm một đêm. Phương tiện liên lạc duy nhất tại đây là điện đài nhưng do thời tiết xấu nên các anh cũng không thể liên lạc ra bên ngoài. Các thành viên đoàn cứu trợ và các chiến sỹ đồn biên phòng 555 đã có một buổi giao lưu thân tình và vui vẻ trong đêm núi đồi giá lạnh.
Sau 2 ngày đêm lưu lại bản Cò Phạt và bản Búng, sáng nay các anh đã trở ra Môn Sơn và đang trên đường quay về Con Cuông. Đây thực sự là chuyến đi đầy thử thách nhưng có lẽ là nhiều kỷ niệm và đáng nhớ nhất với mỗi thành viên đoàn cứu trợ. Chúng tôi sẽ trở lại với thông tin chi tiết và những hình ảnh về chuyến đi khi đoàn về tới Sài Gòn vào tối nay
Tin SMO số 3: Nhât ký hành trình của Trần Duy Anh
Nhật ký chuyến đi cứu trợ tại Nghệ An
5g30 chiều ngày 21/12, lần đầu tiên tôi bước xuống sân bay Vinh, nhiệt độ bên ngoài là 21 độ C, không lạnh lắm. Lấy hành lý kí gửi xong, tôi bắt taxi về nhà khách Ủy ban tỉnh Nghệ An, đón tôi là chú Nam Đồng - nguyên tổng biên tập báo Pháp luật TP.HCM.
Sau vài phút làm quen, tôi sắp xếp đồ đạc, đi tắm để chuẩn bị đi ăn tối. Chú Nam Đồng là một người khó tính nhưng cũng dễ gần, hỏi hai lần là bị mắng. Tắm xong hai chú cháu mới quen chạy xe máy đi tìm quán nhậu, ngày nào không có rượu là chú Đồng không ngủ ngon được. Trước ngày tôi ra Vinh, không có ai uống cùng nên chú ngồi độc ẩm 0,5 lít. 9 giờ chúng tôi trở về nhà khách, nhiệt độ ngoài trời dường như lạnh hơn nhiều, cơn mưa phùn lúc chiều giờ đã nặng hạt.
- "Mai đi vào rừng, ngủ lại một đêm ở Cò Phạt, mốt trở ra nên không cần đem đồ theo, chỉ cần mặc một bộ là được rồi, đường đi khó nên đem nhiều không vác nổi đâu. Nhớ đem theo khăn, bàn chải đánh răng, võng (nếu có), găng tay (nếu có), đặt biệt là áo ấm bắt buộc phải đem vì trong rừng rất lạnh" - chú Nam Đồng căn dặn. Tính tôi vốn cẩn thận nên không nghe theo lời chú, tôi mang theo một bộ đồ và tất cả các vật dụng tôi nghĩ là cần thiết cho chuyến đi, nhưng chỉ gói gọn trong một balo, cũng không nặng lắm. Trước khi ngủ, tôi cắm sạc điện thoại và sạc pin máy ảnh, chuẩn bị cho chuyến đi hai ngày không có điện.
Gần 5g sáng hôm sau, điện thoại của anh phóng viên Đắc Lam (đệ tử của chú Nam Đồng, đại diện báo Pháp Luật ở Vinh) đánh thức chúng tôi dậy, bác tài xế xe đò gọi cho anh báo 30 phút nữa xe sẽ đến đón. Xe chạy được hơn 30 phút, phố xá nhường chỗ cho núi rừng hùng vĩ, các vách núi đá vôi trắng toát, dựng đứng tưởng chừng như sẽ đổ sập bất cứ lúc nào hiện ra trong mắt tôi, những cánh đồng bắp thẳng tắp lờ mờ trong sương sớm như rộng lớn và mênh mông hơn, con sông Giăng khúc khuỷu uốn lượn, lúc lại gần, lúc lùi ra xa.
Sau hơn hai giờ ngồi xe, chúng tôi xuống xe trước huyện ủy Con Cuông. Chúng tôi đi tìm một bữa sáng lót bụng, ở đây có món bánh mướt, giống như banh ướt ở miền Nam, nhưng không ăn với chả và nước mắm, người ta sắp bánh mướt lên đĩa và cho thêm một tô nước canh (giống như bò kho, nhưng lạt và lỏng hơn), nếu bạn có dịp ra Con Cuông mà không thưởng thức bánh mướt là một thiếu sót. Ăn xong, đoàn chúng tôi được một anh đại diện chính quyền huyện đón đưa đi Môn Sơn, cách huyện ủy khoảng 40km. Tới Môn Sơn cũng hơn 10g, tại đây chúng tôi phải rời xe hơi, xuống nốc (xuồng máy - theo cách gọi của dân miền Tây Nam Bộ) để đi tiếp đến các bản trong rừng sâu.
Trước khi xuống nốc, balo, túi xách, điện thoại được bỏ vào bao bóng lớn, phòng khi rơi xuống nước không bị ướt. Là dân miền Tây sông nước, bơi lội cũng giỏi nên tôi hoàn toàn không có chút cảm giác sợ đi nốc, vì trước đây cũng đi xuồng máy dưới quê hoài, ngược lại còn thấy thích thú vì đây là lần đầu tiên đi xuồng máy vượt ghềnh. Anh lái nốc khởi động máy, nước tung trắng xóa phía sau chân vịt đẩy nốc vượt lên trước. Cảnh quan thiên nhiên hiện ra đẹp như tranh vẽ, vách đá cheo leo, cây bụi, chuối rừng, cây to, cây nhỏ chen chúc nhau phủ kín hai bờ sông Giăng, có cây vươn cành ra che phủ nửa lòng sông. Xa xa, hiện ra trong màn sương mỏng, một vài chú chim hoảng hốt bay đi, tránh né tiếng thét của động cơ mười ba sức ngựa và tránh ánh nhìn của chúng tôi, cũng có vài con rất dạn, xuống tắm, nhảy nhót trên tảng đá cách nốc chừng năm bảy mét.
Đi được một lúc, trước mắt tôi hiện ra cái ghềnh đầu tiên của đoạn đường từ Môn Sơn vào bản Khe Lẻ, nơi dừng chân đầu tiên để phát gạo cho bà con, với tài nghệ và kinh nghiệm hơn 10 năm của anh lái nốc, vượt ghềnh cũng bình thường như chạy trên đường lâu lâu gặp ổ gà phải lạng xe để tránh, có điều khác là nếu chỉ cần sai lệch một tấc thôi, nốc sẽ bị úp và cả đoàn sẽ gặp khó khăn: ướt, lạnh, có khả năng va vào đá hoặc bị thương hoặc bất tỉnh, rất nguy hiểm. Rồi ghềnh thứ hai, thứ ba, thứ tư, có lúc cũng run vì nốc lao thẳng vào vách đá, nước phía dưới chảy cuồn cuộn, đá ngầm lởm chởm, lúc mũi nốc chỉ còn cách năm tấc nữa là đụng vào đá thì anh ngồi mũi chống nốc rẽ sang phải, thoát chết, hú hồn.
Bản Khe Lẻ là bản gần nhất, nhưng cũng là bản nghèo nhất theo nhận xét của tôi, vì ở đây không có các anh bộ đội biên phòng, ở hai bản Cò Phạt và Búng, nhờ các anh bộ đội biên phòng mà nhà cửa, ruộng vườn khang trang hơn Khe Lẻ nhiều. Phát gạo xong là giữa trưa, chúng tôi ăn vội mấy gói mì mà đoàn mua theo lúc ở Con Cuông. Người dân Khe Lẻ đãi đoàn chúng tôi món sóc rừng xào mặn (tôi tự đặt tên chứ cũng không biết món đó gọi là gì) và rượu tự nấu. Trời lạnh, đói bụng và thịt sóc rừng chấm với tiêu rừng rất ngon nên ai cũng ăn ngấu nghiến, bữa trưa ở Khe Lẻ chỉ vậy thôi
Tiếp tục lên đường đi vào Cò Phạt, điểm dừng chân thứ hai và cũng là điểm nghỉ lại qua đêm theo kế hoạch, nghe nói ở đây có các cô giáo người dân tộc Thái da trắng, xinh, cả đoàn cũng phấn chấn, nôn nao, mong cho mau xong việc để được giao lưu khi màn đêm buông xuống, quây quần bên bếp lửa ấm áp. Đến nơi cũng gần 2g chiều, nhờ sự giúp đỡ của các anh bộ đội, công việc diễn ra suông sẻ và nhanh chóng hơn, phát xong bốn tấn gạo thì trời đã xế chiều, cả đoàn mệt lả vì đói do lúc trưa ở Khe Lẻ ăn mì đâu có no. Thịt và rau mua hồi sáng được bày ra để nấu bữa cơm chiều, các anh bộ đội, cô giáo và chúng tôi mỗi người một việc, người rửa thịt, người luộc rau, người nấu cơm, rửa chén.... Đang nhắm nháp cốc trà nóng, một anh bộ đội rủ tôi xuống khe (suối hay sông Giăng) tắm.
- "Ở đây không tắm nước nóng được, quen rồi, tắm nước nóng là bị ốm (bệnh) ngay" – anh bộ đội vừa cười vừa nói với tôi – Ở đây ai cũng xuống khe, lột hết quần áo ra tắm rất tự nhiên, không biết lạnh. Nghe nói mà tôi nổi hết da gà, đang mặc trên người tới ba cái áo, một áo thun và hai áo ấm mà còn thấy lạnh, cởi hết ra trầm mình xuống suối là bất khả thi. Quyết định…ở dơ một ngày, mai về rồi nên cũng không sao, về nhà khách tắm nước nóng cho khỏi lo, tắm nước lạnh bệnh là khổ.
Bữa tối được dọn lên với rượu, trời lạnh nên rượu dường như cũng ngon và dễ uống hơn, tôi uống một ly cùng với cả đoàn và các anh bộ đội, cô giáo người Thái. Các món ăn dân dã, nước mắm ớt, rau luộc, chỉ có vậy thôi mà rất ngon, tôi với chú Nam Đồng xới cơm liên tục, đếm cũng được năm lần. Rượu được uống xen trong lúc ăn, tôi uống rượu không giỏi nên không dám uống nhiều, chỉ nhấp môi hòa vào không khí cùng mọi người. Cô giáo được yêu cầu hát một bài, tôi vừa uống trà nóng vừa nghe, có đoạn “…xin hãy nhớ núi rừng Con Cuông…”, lời bài hát không trau chuốt nhưng ấm áp tình người, làm cho người nghe cảm thấy buồn buồn nhớ quê hương, giống như “…xin hãy nhớ sông nước Tiền Giang…” vậy.
Sáng hôm sau, đoàn cứu trợ chúng tôi tiếp tục xuống nốc đi vào sâu hơn trong rừng, vào bản Búng, nơi bốn tấn rưỡi gạo đã được chuyển vào trước mấy hôm, chờ phát tận tay cho mỗi người dân Đan Lai. Tôi bước xuống nốc, yên tâm vì đi nốc vượt ghềnh cũng bình thường thôi mà, vì chuyến đi hôm qua quá suông sẻ, nhưng tôi đã lầm. Nốc tôi đi sáng nay không phải là nốc hôm qua, người lái nốc cũng không phải là người hôm qua, và điều đặc biệt: đây là lần đầu tiên anh lái nốc này đi từ Cò Phạt vào bản Búng! Điều đó có nghĩa là anh ta không biết vị trí của những tảng đá ngầm ở hai mươi mốt cái ghềnh mà chúng tôi sắp phải đi qua. Kết quả là mười một lần sợ hãi, ba lần nốc bị kẹt trên đá ngầm, một lần nốc nghiêng, tưởng chừng như lật úp, một thùng dầu cứu trợ chúng tôi mang theo bị rơi ra khỏi nốc, trôi theo dòng nước dữ. Cuối cùng cũng tới được bản Búng, nhưng một phần ba đoạn đường còn lại chúng tôi phải đi bộ, đến nơi trời đã giữa trưa.
Công việc được tiếp tục, từng người dân rời trạm bộ đội với những túi đầy gạo trên vai, các em nhỏ tay cầm dầu, tay cầm đường cười nói ríu rít. Một giờ rưỡi trưa chúng tôi mới ăn cơm, đói và mệt, lại đang gấp để kịp quay ra Môn Sơn, về Con Cuông bắt xe về Vinh, nhưng tôi cũng kip ăn tới năm chén cơm. Hôm qua tới nay đi nốc ngược dòng, lần này được đi nốc xuôi dòng, đó là một cảm giác khác, vì còn sợ sau lần suýt chết vừa rồi. Tuy vậy, lần đi ra diễn ra suông sẻ, về tới Cò Phạt hơn 4g chiều, anh lái nốc nói không đủ xăng để ra Môn Sơn nên chúng tôi đành ở lại Cò Phạt. Chú Nam Đồng đi mua một con gà về nhậu, vì thịt hôm qua đã ăn hết, thịt gà vườn nuôi trong rừng cũng rất khác thịt gà vườn ở quê tôi, dai hơn, thơm hơn nhiều. Bữa tối cũng được dọn ra trên bàn ngay chỗ hôm qua, ngồi như hôm qua, ăn cũng ngon và no như hôm qua nhưng hôm nay không có cô giáo người Thái ăn cùng, cô xuống khe lưới cá cho bữa ăn chiều chưa về. Hôm nay không ở dơ nữa, tôi nấu nước nóng tắm cho sảng khoái.
Hôm sau chúng tôi lên đường về sớm, về tới Môn Sơn chú Nam Đồng liền gọi điện báo tin cho sếp Chính mọi người vẫn an toàn, vì theo kế hoạch chiều hôm qua là về tới Vinh rồi, ở Cò Phạt, trong rừng sâu thì làm gì sóng điện thoại mà gọi. Nghe nói ở công ty, sếp Chính lo lắng lắm, gọi điện cả đêm, nhưng đâu biết rằng chúng tôi vẫn an toàn và đang ngon giấc trên chiếc giường cùng với chăn ấm mà các anh bộ đội nhường cho.
Mặc dù có vài trục trăc nhỏ nhưng chuyến đi cũng diễn ra suông sẻ và thành công, người dân Đan Lai ở ba bản Khe Lẻ, Cò Phạt và Búng đã có gạo ăn, tuy không nhiều nhưng chứa đựng tràn đầy tình thương của chúng ta - những người đã góp tiền gạo và tấm lòng, những người đang ở nhà ngóng tin, bộ đội biên phòng và những người đang có mặt nơi đây.
3g30 chiều 24/12, tôi và chú Nam Đồng chia tay anh phóng viên trẻ, lên taxi ra sân bay bay về Sài Gòn. Giáng Sinh năm nay thật ý nghĩa đối với tôi.
Bài và ảnh: Duy Anh