Tháng Tám năm qua, tôi có việc đi về một vùng quê ở Quảng Trị. Nơi tôi sẽ đến là một vùng đất thuộc xã Hải Thành, Huyện Hải Lăng. Sau một đêm say cùng thơ và nhạc với các bạn bè ở Huế, chúng tôi dậy rất sớm và khởi hành từ 5 giờ sáng thẳng hướng Quảng Trị. Bình minh và nắng sớm trên ruộng đồng làm tôi thấy khỏe hẳn ra, dù vẫn còn chút dư vị ngây ngây của men say. Rời TP Huế khoảng 40 cây số, xe rẽ phải tiến vào Huyện Hải Lăng. Chúng tôi dừng ở đây để tìm một người địa phương dẫn đường. Huyện Hải Lăng đất đai cằn cỗi, cát trắng mênh mông, làm nông rất vất vả. Để sinh nhai, người dân ở đây chuyên trồng chè xanh, một loại lá cây để nấu uống như trà nhưng là nấu tươi nguyên lá, không qua tẩm sấy như trà mà pha vào một chút gừng cay. Các bạn ở miền Trung chắc rành thứ nước chè xanh này.Sáng sớm trên đường quê từng gánh hàng chè xanh do các chị, các bà mang ra chợ bán. Một hình ảnh đẹp của quê hương thanh bình.
Trong đám người gánh chè đi ngang qua chỗ đậu xe, tôi chú ý một bà lão có nét mặt khắc khổ, rất tượng trưng biểu cho hình ảnh Bà Mẹ Gio Linh (PD), Người Mẹ Ô Lý (TCS). Vùng quê nghèo này dược hai nhạc sĩ nổi tiếng làm hai bản nhạc rất hay về bà mẹ. Bà lão bỗng dừng lại khi một cô gái trẻ tiến đến. Một cuộc thương
lượng diễn ra ngay chỗ tôi đứng. Một gánh có hai thúng, mỗi thúng chứa 3 bó chè, mỗi bó to đến cả ôm tay người lớn giá là 2000 đồng nếu ra chợ bán. Chợ thì xa, còn ở đây, cô gái có thể mua lại mỗi thúng 3 bó với giá 5.500 đồng thay vì 6000 đồng. Bà lão sẽ thiệt đi 500 đồng cho một thúng nếu sang tay cho cô gái gánh tiếp ra chợ. Cuộc trả giá cuối cùng không thành vì bà lão cương quyết từ chối. Bà không muốn mất 500 đồng. Và lại tất tả với gánh chè trên vai, bà nghiêng đôi quan gánh tiếp tục hành trình, bóng đổ dài trong nắng sớm . Tôi chợt nghĩ đến những cuộc nhậu tiền triệu của mình. Chợ sẽ còn bao xa nữa. Và đôi vai gầy kia còn gồng gánh bao nhiêu nữa để giữ lấy 500 đồng.
Người dẫn đường cho chúng tôi là học trò cũ của một chị trong đoàn. Anh vui vẻ nói về quê Hải Lăng của mình và mời chúng tôi ăn một món quà sáng rất đặc biệt của Hải Lăng. Đó là món bánh canh nấu với cá. Chúng tôi lên xe đi một lúc thì đến quán bánh canh cá nổi tiếng nhất trong vùng. Bánh canh bột gạo ngon thật. Nóng hổi và thơm ngọt ngào, nấu với cá mà không có vị tanh. Tôi ăn liền một lúc hai tô nhỏ mà vẫn có thấy thích. Một tô chỉ 2000 đồng. Đang ngồi uống chè xanh thì bỗng thấy bà lão gánh chè lúc nãy đứng trong khoảng sân trước quán. Có lẽ phải mất 20 phút bà mới gánh đến đây. Bà cứ đứng lặng nhìn vào quán. Tôi không hiểu bà nhìn vào quán làm gì. Nhưng một trực giác cho tôi biết là bà đang rất muốn tự thưởng cho mình một tô bánh canh cá thơm ngon trong kia. Và có lẽ số tiền ít ỏi của gánh chè không cho phép, bà đang dằn co dữ dội trong đầu. Một chốc, bà đặt đòn gánh xuống ngồi nghỉ chân. Đôi mắt khó hiểu vẫn nhìn vào quán. Đôi mắt vừa cam chịu như cái tinh thần phụ nữ VN, vừa thèm thuồng như cái đói rất bản năng trong người, vừa hơi có gì đó đang tính toán: 500 đồng ? 2000 đồng ? hay thôi để về ăn cơm nguội trong nhà. Đôi mắt vẫn cứ nhìn vào quán. Lặng lẽ, khao khát, nhẫn chịu. Có lúc tôi đọc thấy cả mênh mang buồn trong đôi mắt già nua kia.
Các bạn ơi tôi sẽ làm gì ? Tôi sẽ đứng dậy mời bà vào quán. Tôi sẽ gọi tô bánh canh cho bà. Sẽ tế nhị vào trong trả tiền. Tôi sẽ nói rằng bà muốn ăn bao nhiêu tô cũng được.
Tôi đã không làm những việc đó. Tôi vẫn không hiểu vì sao. Một rào cản nào đó cứ ngăn lại. Ngại ngần những người cùng đi với mình ư ? Ngại ngần những khách trong quán ư ? Hay bản năng ích kỷ. Hay tôi tự hào mình đang đi làm những việc thiện lớn lao (xây trường, cứu trợ lụt...) và không cần những chuyện tiểu tiết này. Tôi không biết tôi ngại điều gì nhưng tôi đã không làm những việc cần làm. Và bây giờ cứ ngồi ân hận mãi. Có những giây phút mình không hiểu mình ra sao nữa.
Văn Khoa (2000)
Photo Văn Khoa (chỉ để minh hoạ)